Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

Namstone.vn – Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường đá ốp lát trong ngành vật liệu trang trí nội và ngoại thất đã kéo theo sự đa dạng hóa mẫu mã, màu sắc, chủng loại sản phẩm, phục vụ cho mục đích sử dụng của con người.

Mục lục bài viết
  • Đá tự nhiên
  • Đá nhân tạo
  • 1 – Đá cẩm thạch hay marble (đá biến chất)
  • 2 – Đá hoa cương hay đá granite (đá magma)
  • 3 – Đá trầm tích (đá vôi-travertine)
  • 4 – Đá xuyên sáng Onyx
  • 5 – Đá marble phức hợp
  • 6 – Đá nhân tạo làm từ bột đá ( loại vân vẽ và loại vân nhỏ xuyên độ dày của đá)

Trên thị trường đá xây dựng và trang trí hiện nay có 2 loại: 

Đá tự nhiên và đá nhân tạo. Đá tự nhiên là loại đá được hình thành trong tự nhiên và được con người khai thác, gia công thành những vật liệu trang trí. Đá nhân tạo là đá do con người tạo ra. Có rất nhiều loại đá khác nhau, mỗi loại lại có một vẻ đẹp và đặc tính riêng. Bài viết dưới đây, Đá tự nhiên Namstone sẽ khái quát tổng thể về vật liệu đá trong xây dựng và trang trí.

Các loại đá trong xây dựng và trang trí

Đá tự nhiên

  • Đá cẩm thạch hay đá marble (đá biến chất)
  • 2- Đá hoa cương hay đá granite (đá magma)
  • Đá trầm tích (đá vôi-travertine)
  • Đá Onyx

Đá nhân tạo

  • Đá marble phức hợp
  • Đá nhân tạo- solid surface
  • Đá granite nhân tạo
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

 

1 – Đá cẩm thạch hay marble (đá biến chất)

Cấu tạo: 

– Đá marble loại đá được hình thành do chịu ảnh hưởng của nhiệt lưu hoạt động magma và sự vận động kết cấu bên trong vỏ trái đất, dưới nhiệt độ và áp lực làm thay đổi thành phần và kết cấu của nham thạch.

Đặc điểm: 

– Đá có nhiều màu sắc khác nhau bao gồm: màu trắng, trắng xám, màu đen, màu xám, xám xanh, màu xanh lục, màu đỏ, màu vàng…..

– Bề mặt ngoài đá có nhiều hoa văn đẹp thẩm mỹ cao, đặc điểm của đá Marble vân và màu sắc nhẹ nhàng hơn vân hoa đá granite.

Ứng dụng:

Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

– Ứng dụng của đá marble thường được sử dụng trong các hạng mục nội thất như: ốp tường, cầu thang, cột, bar, bàn cafe, bếp, nhà tắm, mặt tiền nhà…

2 – Đá hoa cương hay đá granite (đá magma)

Cấu tạo:

– Đá granite là loại đá nằm trong vỏ trái đất hoặc phun ra bề mặt trái đất rồi ngưng tụ thành do quá trình biến chất tiếp xúc nhiệt hay sừng hóa. Granite hầu hết có cấu tạo khối, cứng và xù xì hướng tròn cạnh khi bị phong hóa.

– Số lượng loại đá này có nhiều nhất ở đá hoa cương, đá bazan, đá núi lửa, đá tuff.

Đặc tính:

– Granite ngày nay cũng rất phong phú rất nhiều hoa văn và màu sắc đẹp không thua kém gì đá Marble. Đá granite có màu đen, kem, trắng, đỏ, vàng,… tùy thuộc vào thành phần hóa học và khoáng vật cấu tạo nên đá.

– Đá hoa cương là đá magma tính acid phân bố rộng nhất.

– Bề mặt hạt thô đạt mức đá kết tinh.

– Tỷ trọng riêng trung bình là 2.75 g/cm3 độ nhớt ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn là ~4.5 • 1019 Pa•s

– Đá hoa cương gồm 3 loại: đá hoa cương hạt mịn, đá hoa cương hạt trung, đá hoa cương hạt thô.

Ứng dụng:

Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

Đá granite được sử dụng rộng rãi làm đá xây dựng, ốp tường, sàn nhà nội ngoại thất, các khu tiểu cảnh trang trí, Bề mặt tủ bếp, quầy bar, cầu thang.

3 – Đá trầm tích (đá vôi-travertine)

Cấu tạo:

Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

– Đá có cấu tạo chủ yếu là khoáng chất canxit

– Đá trầm tích là một trong ba nhóm đá chính (cùng với đá magma và đá biến chất) cấu tạo nên vỏ trái đất và chiếm 75% bề mặt trái đất.

– Là loại đá lộ ra trên mặt đất, một loại đá biến chất từ đá vôi, kết cấu chủ yếu: kết cấu lớp vân, chứa động-thực vật hóa thạch.

Đặc điểm:

– Đá có màu sắc từ trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu hồng sẫm, màu đen do bị lẫn nhiều tạp chất trong đất như đất sét, bùn và cát, bitum…

– Đá vôi có khối lượng thể tích 2600 ÷ 2800 kg/m3,

– Cường độ chịu nén 1700 ÷ 2600 kg/cm2

– Độ hút nước thấp 0,2 ÷ 0,5%.

– Đá vôi nhiều silic có cường độ cao hơn, nhưng giòn và cứng.

– Đá vôi chứa nhiều sét (lớn hơn 3%) thì độ bền nước kém.

– Đá vôi không rắn bằng đá granite, nhưng phổ biến hơn, khai thác và gia công dễ dàng hơn, nên được dùng rộng rãi hơn.

Ứng dụng:

– Trong xây dựng:

+ Đá vôi thường được dùng làm cốt liệu cho bê tông, dùng rải mặt đường ô tô, đường xe lửa, và dùng trong các công trình thuỷ lợi;

+ Để chế tạo tấm ốp, tấm lát và các cấu kiện kiến trúc, xây dựng;

+ Đá vôi là nguyên liệu để sản xuất vôi và xi măng.

– Trong nghệ thuật: đá vôi được dùng để tạo hình điêu khắc tượng, phù điêu, hòn non bộ trang trí…

4 – Đá xuyên sáng Onyx
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất
Các loại đá thường dùng trong xây dựng & trang trí nội thất

Cấu tạo:

– Đá Onyx có thể tự nhiên hoặc nhân tạo.

– Đá Onyx tự nhiên là loại đá thuộc dòng đá thạch anh, kết hợp từ nước và quá trình phân rã của đá vôi, cùng với sự chuyển hóa liên tục trong lòng đất tạo thành một loại đá mới.

– Đá Onyx nhân tạo được con người tạo ra từ nhựa

Đặc điểm:

– Đá có khả năng xuyên sáng đặc biệt khác so với các loại đá thông thường

– Đá Onyx có đặc tính mềm, giòn, dễ vỡ và rạn nứt theo vân.

– Bề mặt trông như sáp, khả năng xuyên sáng và vẻ đẹp sang trọng.

– Đá Onyx  có nhiều lớp màu sắc khác nhau.

Ứng dụng:

– Onyx là một loại đá quý trên thế giới và rất hiếm trên thị trường Việt Nam

– Các thành phẩm sử dụng có thể là dạng tấm lớn, dạng kích thước quy cách hoặc dạng hạt như mosaic.

– Onyx phù hợp với các thiết kế theo phong cách cổ điển cũng như hiện đại và được sử dụng nhiều để thiết kế các công trình dịch vụ như khách sạn, resort, nhà hàng cao cấp, để ốp tường, lát sàn, làm mặt bàn ở các sảnh lớn, khu vực quầy bar, khu vực lễ tân, tường backgroud, kết hợp với chiếu đèn sáng trang trí để lộ ra vẻ đẹp của hoa văn đá xuyên sáng này.

5 – Đá marble NHÂN TẠO phức hợp

Cấu tạo:

– Đá marble nhân tạo được hiểu như đá cẩm thạch nhân tạo (Cultured Marble) được sản xuất từ bột đá thiên nhiên và bột tạo màu sắc trộn với polyester resin bão hòa như là chất kết dính theo một tỷ lệ đặc biệt và chính xác tạo ra các sản phẩm đá marble nhân tạo có hình dạng giống y đá granite tự nhiên, thậm chí còn đẹp hơn và đa dạng hơn về các thiết kế.

Đặc điểm:

– Đá có trọng lượng nhẹ hơn nhiều so với đá tự nhiên, vận chuyển dễ dàng, phù hợp cho các thiết kế nhà cao tầng bị hạn chế nhiều về tải trọng.

– Sản phẩm đá marble sau khi phối hợp với các vật liệu khác tạo nên đá marble phức hợp có độ cứng cao hơn gấp 3 lần so đá tự nhiên, chống cong vênh, hạn chế bể vỡ trong quá trình vận chuyển, lắp đặt và sử dụng.

– Đá marble phức hợp do có một lớp chất liệu khác ở đế sản phẩm, cùng với lớp keo kết nối ở giữa, nên giúp cho sản phẩm tránh được tình trạng hoen ố và thay đổi màu.

– Dễ dàng khống chế được sự khác biệt màu sắc: màu sắc, vân hoa đồng đều, ko có rạn nứt hay vết ố vàng tự nhiên đã được nhà cung cấp xử lý.

– Cách âm, cách nhiệt tốt.

Ứng dụng:

Đá marble ứng dụng trong thiết kế nội thất.

– Mặt bàn bếp có chậu rửa đúc liền

– Lavabo rời hoặc liền tủ

– Bồn tắm nằm các loại

– Bồn tắm đứng, vách bao quanh và trần

– Các phần viền quanh bồn tắm, chỉ cạnh vuông hoặc tròn

– Quầy bar

– Các sản phẩm trang trí nội thất khác…

6 – Đá nhân tạo, Solid Surface
đá nhân tạo
đá nhân tạo

Cấu tạo:

Đá nhân tạo là một vật liệu tổng hợp được làm bằng đá tự nhiên nghiền liên kết với nhau bằng một chất kết dính để tạo thành. Là vật liệu hỗn hợp giữa khoáng đá tự nhiên và keo Acrlyic nên nó là vật liệu đặc, không chứa lỗ rỗng, cứng, bền màu, uốn cong được, dễ chế tác, có thể sửa chữa được và làm mới.

Đặc điểm:

– “Đá nhân tạo  – Solid surface” có khả năng chống ố bẩn, chịu nhiệt, chống tia cực tím, không có vết nối, an toàn vệ sinh thực phẩm, có thể thiết kế linh hoạt, bền màu và đa dạng về màu sắc.

Ứng dụng:

– Vật liệu được sử dụng chủ yếu trong thiết kế mặt bếp, bar, bồn rửa, hay quầy lễ tân, mặt bàn, các thiết kế có đường cong khó gia công.

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng

Trong bài viết này, Namstone.vn sẽ trình bày các nội dung chính:

Mục lục bài viết
  • 1. Các loại đá tự nhiên chính trong thiết kế xây dựng
  • 2. Đặc điểm các loại đá tự nhiên trong thiết kế xây dựng
    • Đá cẩm thạch, marble
    • Đá hoa cương, đá granite
    • Đá trầm tích (đá vôi-travertine)

Đá tự nhiên là loại vật liệu có độ bền thách thức thời gian và những đặc tính, hình dạng mà không loại vật liệu nhân tạo nào có được. Các loại đá tự nhiên cũng có nhiều ứng dụng hơn so với gạch, gỗ thông thường, đặc biệt, với đặc điểm khí hậu nóng ẩm như ở Việt Nam, sử dụng đá tự nhiên trong các công trình xây dựng làm tăng tuổi thọ công trình.

Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng
Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng

1. Các loại đá tự nhiên chính trong thiết kế xây dựng

2. Đặc điểm các loại đá tự nhiên trong thiết kế xây dựng

Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng
Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng

a) Đá cẩm thạch, marble

+ Cấu tạo: Loại đá marble này được hình thành nên do chịu ảnh hưởng của nhiệt lưu hoạt động magma và sự vận động kết cấu ở bên trong vỏ trái đất. Do tác động của nhiệt độ cộng với áp lực dẫn đến các thành phần và kết cấu của nham thạch bị thay đổi.

+ Đặc điểm: Đá marble có khá nhiều màu sắc khác nhau, bên cạnh các sắc màu phổ biến như trắng, trắng xám, đen thì còn có các màu như xám, xám xanh, lục, đỏ, vàng… Bề mặt ngoài của đá có nhiều hoa văn đẹp, tính thẩm mỹ cao như đường, điểm, gợn sóng…

+ Ứng dụng: Nhìn chung, ứng dụng của loại đá marble này khá phong phú, dù thiết kế nội hay ngoại thất bạn đều có thể sử dụng nó để ốp tường, lát cầu thang, cột, bar, bàn cà phê, bếp, nhà tắm, mặt tiền nhà…

 

Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng
Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng

b) Đá hoa cương, đá granite

+ Cấu tạo: Loại đá granite này nằm trong vỏ trái đất hoặc được tạo nên từ quá trình phun ra bề mặt trái đất rồi ngưng tụ thành do quá trình biến chất tiếp xúc nhiệt hay sừng hóa. Đa phần, đá granite đều cấu tạo khối cứng, xù xì hướng tròn cạnh khi bị phong hóa. Phổ biến nhất trong số đó chính là đá hoa cương, bazan, đá núi lửa, đá tuff.

+ Đặc tính: Màu sắc của đá granite có thể là hồng, xám hay thậm chí là đen, vấn đề này còn tùy thuộc vào thành phần hóa học cũng như khoáng vật cấu tạo nên đá. Với đá hoa cương hay đá magma tính acid phân bổ tương đối rộng rãi. Bề mặt hạt thô đạt mức đá kết tinh, tỷ trọng trung bình của nó là 2.75 g/cm3, độ nhớt ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn là ~4.5 • 1019 Pa•s. Hiện nay, thị trường đá hoa cương gồm có 3 loại đó là đá hạt mịn, hạt trung bình và hạt thô.

+ Ứng dụng: Loại đá granite này được sử dụng khá phổ biến trong xây dựng, ốp tường, lát sàn nhà nội ngoại thất, các khu tiểu cảnh trang trí, cầu thang, mặt bếp…

Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng
Cách phân biệt các loại đá tự nhiên trong xây dựng

c) Đá trầm tích (đá vôi-travertine)

+ Cấu tạo: Đá trầm tích đa phần được cấu tạo từ khoáng chất canxit, nó là một trong 3 nhóm chính cấu tạo nên vỏ trái đất và nó chiếm khoảng 75% bề mặt của trái đất, những loại đá được lộ lên trên mặt đất có một phần được biến chất từ đá vôi, kết cấu phần lớn là lớp vân chứa động thực vật hóa thạch.

+ Đặc điểm: Màu sắc của đá trầm tích khá đa dạng, từ màu tro, xanh nhạt, vàng cho đến hồng sẫm. Đối với màu đen là do nó bị lẫn quá nhiều tạp chất trong đất như bitum, bùn, cát, đất sét… Đá vôi có khối lượng trung bình 2.600 ÷ 2.800 kg/m3, cường độ chịu nén 1.700 ÷ 2.600 kg/cm2, khả năng hút nước 0,2 ÷ 0,5%. Đối với loại đá vôi nhiều silic sẽ có cường độ cao hơn, tuy nhiên nó giòn và cứng hơn, còn đá vôi chứa nhiều sét lại chịu độ bền nước kém.

+ Ứng dụng: Đá vôi thường được làm cốt liệu cho bê tông, rải mặt đường, chế tạo tấm ốp, tấm lát, các cấu kiện kiện kiến trúc, xây dựng, tạo hình điêu khắc tượng, hòn non bộ trang trí…

Các bạn có thể xem thêm một số mẫu đá đẹp của Namstone.vn Tại Đây.

Trân trọng.

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Đá granite là gì? Những điều cần biết về đá Granite

Đá granite là gì? Những điều cần biết về đá Granite

Namstone.vn – Đá granite hay còn gọi là đá hoa cương, là loại đá có cùng đặc điểm và nguồn gốc của chúng ở rất sâu trong lòng Trái Đất. Được hình thành do sự làm nguội chậm của đá nóng chảy trong lòng đất. Hầu hết đá granite có cấu tạo khối, cứng và xù xì.

Đá granite là gì? Những điều cần biết về đá Granite
Đá granite là gì? Những điều cần biết về đá Granite

Các ứng dụng của đá granite trong xây dựng

Từ lâu, đá granite đã được ứng dụng nhiều vào lĩnh vực xây dựng. Với các ưu điểm như: Bền, dễ lau chùi vệ sinh, nhiều màu sắc cũng như kiểu dáng bề mặt, giá thành hợp lý nên ngày nay đá granite hầu như có mặt ở các công trình từ lớn tới bé, từ các văn phòng cao ốc cho đến hộ gia đình. Đá granite có thể ứng dụng vào nhiều hạng mục:

+ Trang trí mặt bàn ăn, mặt bếp, quầy bar:

Nhờ thuộc tính không thấm nước nên đá grantie là lựa chọn hàng đầu cho những hạng mục này. Các loại màu đá thường dùng để lát mặt bếp là xám, đen.

+ Đá granite dùng để lát sàn:

Bên cạnh các loại đá granite nhân tạo, đá granite tự nhiên vẫn có những ưu điểm vượt trội khi sử dụng vào để lát sàn. Đá granite tự nhiên còn an toàn đối với sức khỏe con người khi sử dụng. Đây là một ưu tiên hàng đầu.

+ Đá granite dùng để trang trí cầu thang bộ và cầu thang máy:

Nhờ những ưu điểm của mình mà đá granite còn được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thang máy như: Làm sàn cabin thang máy, dùng để ốp trang trí cửa thang máy, cửa tầng thang máy gia đình.

Ngày nay, sử dụng đá granite để ốp cầu thang, cầu thang bộ là phổ biến nhất, bạn có thể thấy ở mọi nơi, mọi gia đình. Điều đó một lần nữa chứng minh sự ưu việt của loại vật liệu xây dựng này đối với một công trình từ lớn đến bé.

+ Đá granite dùng để lát cầu thang bộ

Sự đa dạng về màu sắc giúp cho các kiến trúc sư có thể dễ dàng bố trí đá granite ở khắp các khu vực mà vẫn đảm bảo hài hòa về mặt kiến trúc tổng thể là một trong những thế mạng của đá granite khi chủ đầu tư lựa chọn.

+ Đá granite khi thi công có lộ đường nối? 

Khi làm mặt bàn, tùy theo hình khối, màu sắc và thiết kế, đá granite sẽ có đường nối lộ ra, tuy nhiên tùy theo trình độ của nhà thi công mà đường nối này nhỏ và vẫn đảm bảo thẩm mỹ. Tôi sử dụng đá Granite ở lối vào và cũng muốn sử dụng chúng ở ngoài nhà, nhưng tôi ngại là bề mặt đá có thể gây trơn trượt? Trong trường hợp này, đá Granite phun lửa có bề mặt nhám và chống trơn trượt là một lựa chọn cho bạn.

+ Tại sao lại dùng đá Granite cho bàn bếp?

Bởi vì đá Granite rất cứng do được hình thành ở nhiệt độ rất cao sâu trong lòng đất, mặt bóng của nó có thể chịu được sự ăn mòn của axit thông thường hoặc trầy xước bằng dao và nồi chảo. Nó không bị ảnh hưởng bởi nhiệt bếp điển hình như chảo nóng, hoặc đổ chất lỏng. Vì vậy đá Granite rất thích hợp để ốp bàn bếp.

Đá granite là gì? Những điều cần biết về đá Granite
Đá granite là gì? Những điều cần biết về đá Granite

+ Có nên dùng đá Granite cho mặt tiền chịu thời tiết nắng nóng?

 Về cơ bản, đá Granite là một trong các loại đá tự nhiên rất bền và có độ chống chịu thời tiết rất cao. Các loại đá Granite màu đen trong thời tiết nóng sẽ hấp thụ nhiệt và nóng hơn các loại đá khác.

+ Đá granite có thể bị hư hại không?

Giống như các bề mặt đặc khác, những lực mạnh có thể làm hỏng đá Granite. Do có cấu trúc tinh thể hạt, nó có thể bị vỡ vụn khi va đập với vật cứng và sắc. Nếu không được chống thấm, Granite có thể bị bẩn bởi dầu, gây ra những điểm sẫm và mất màu. Nhiệt từ nồi chảo hoặc các chất lỏng ở nhiệt độ cao không làm ảnh hưởng đến đá granite ở điều kiện bình thường.

+ Tôi có thể cắt mặt bàn làm bằng đá granite?

Bạn sẽ chỉ làm hỏng dao của mình bởi đá Granite thường cứng hơn lưỡi dao và làm mẻ chúng nhanh chóng. Tuy nhiên, bạn cũng không nên cắt trực tiếp trên bề mặt đá Granite mà nên sử dụng mặt cắt bằng chất liệu gỗ hoặc nhựa.

+ Đá granite phun lửa là gì?

Đá granite được phun lửa bằng cách sử dụng lực hơi nóng phun vào bề mặt của đá. Điều này làm cho bề mặt bị tan chảy và một số tinh thể vỡ ra, để lại một bề mặt nhám rất thích hợp cho lát đường hoặc những khu vực ẩm ướt, chống trơn trượt.

+ Đá Granite mài mờ là gì?

Đá Granite được gọi là “mài mờ” khi quá trình đánh bóng dừng lại khi đạt được độ bóng nhất định. Quá trình này sử dụng một số biện pháp làm sâu màu cho đá để giảm độ bóng, tạo độ “mờ”. Cũng có thể xử lý quá trình mài mờ này bằng những thiết bị đặc biệt để “mài” đi bề mặt bóng của đá, gây ra những vết tròn trên đá bởi đầu mài của thiết bị.

Hy vọng bài viết trên Namstone đã cung cấp đến bạn nhiều thông tin bổ ích về đá Granite. Nếu như bạn vẫn chưa hài lòng về những kiến thức mà chúng tôi đưa ra thì bạn có thể xem bài viết: Đá granite là gì? Những điều có thể bạn chưa biết về chúng. Để biết được quá trình hình thành đá Granite, những ưu nhược điểm của chúng.

Trong bài tiếp theo sẽ được xuất bản ngày 08/05/2019.

Mời các bạn đón đọc.

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Danh sách các loại Đá tự nhiên – Phần 2

Namstone.vn – Đây là danh sách các loại đá tự nhiên được tổng hợp theo cách miêu tả của các nhà thạch học.

Như ở phần trước Đá tự nhiên Namstone đã gửi đến bạn đọc bài viết Danh sách các loại đá tự nhiên trong đó đã liệt kê các loại đá thuộc họ đá tự nhiên Mác Ma, đá tự nhiên họ Trầm tích.

Mẫu andesit (nềm tối) với các hốc được lắp đầu bởi zeolit. Đường kính khoảng 8 cm.
Mẫu andesit (nềm tối) với các hốc được lắp đầu bởi zeolit. Đường kính khoảng 8 cm.

Tầng than bitum ở Tây Virginia
Tầng than bitum ở Tây Virginia

Trong Phần 2 này, Đá tự nhiên Namstone sẽ cung cấp thêm tên đá tự nhiên thuộc dòng đá biến chất và các loại đá đặc biệt khác.

Đá biến chất

Turbidit (Gorgoglione Flysch), thế Miocen, Nam Ý
Turbidit (Gorgoglione Flysch), thế Miocen, Nam Ý
  • Turbidit (Gorgoglione Flysch), thế Miocen, Nam Ý
  • Amphibolit – đá biến chất thành phần chủ yếu là amphibol
    • Epidiorit
  • Đá phiến lam – đá biến chất thành phần chủ yếu là amphibol natri màu xanh dương
  • Eclogit – basalt hoặc gabro bị biến chất siêu cao; cũng là tướng đá biến chất
  • Gneis – đá biến chất hạt thô
  • Gossan – sản phẩm phong hóa của đá sulfua hay thân quặng
  • Granulit – đá biến chất cấp cao từ basalt; cũng là tướng đá biến chất
  • Đá phiến lục – thuật ngữ để chỉ các đá biến chất mafic chủ yếu là amphibol lục
    • Greenstone
  • Đá sừng – đá biến chất hình thành do nhiệt của đá mác ma
  • Đá hoa
  • Đá hoa – đá vôi bị biến chất
  • Migmatit – đá biến chất cao ven khối mác ma
  • Mylonit – đá biến chất động lực hình thành do lực cắt
  • Pelit – đá biến chất có nguồn gốc từ đá trầm tích giàu sét (như bột kết)
  • Phyllit – đá biến chất cấp thấp thành phần chủ yếu là khoáng vật mica
  • Psammit – đá biến chất có nguồn gốc từ đá trầm tích giàu thạch anh (như cát kết)
  • Quartzit – các kết thạch anh bị biến chất với hàm lượng thạch anh >95%
  • Manhattan Schist, from Southeastern New York
  • Đá phiến – đá biến chất cấp thấp đến trung bình
  • Serpentinit – đá siêu mafic bị biến chất thành phần chủ yếu là các khoáng vật serpentin
  • Skarn – đá biến chất tiếp xúc
  • Slate
  • Đá bảng – đ1 biến chất cấp thấp từ đá phiến sét hoặc bột kết
  • Suevit – đá được hình thành từ việc nóng chảy một phần khi chịu ảnh hưởng của thiên thạch
  • alc carbonat – đá siêu mafic thành phần chủ yếu là khoáng vật tan bị biến chất; tương tự như serpentinit
    • Soapstone – thực chất là schist tan

Các dạng đá đặc biệt

Manhattan Schist, from Southeastern New York
Manhattan Schist, from Southeastern New York

Các tên gọi sau được sử dụng để miêu tả các loại đá không theo quan điểm thạch học, nhưng chúng được xác định theo các tiêu chí khác nhau; hầu hết chúng là các đá khác nhau thuộc các nhóm đặc biệt, hoặc các dạng tồn tại khác của các đá được đề cập ở trên.

  • Manhattan Schist, from Southeastern New York
  • Adamellit – một biến thể của monzonit thạch anh
  • Appinit – nhóm biến thể của lamprophyr, hầu hết là hornblend
  • Aphanit – đá núi lửa felsic ẩn tinh được nhận dạng qua yếu tố quang học
  • Borolanit – một biến thể của nepheline syenit ở Loch Borralan, Scotland
  • Granit lam – thực chất là larvikit, một loại monzonit
  • Epidosit – một dạng biến chất tiếp xúc do thay thế thành phần của basalt
  • Felsit – đá núi lửa felsic ẩn tinh được nhận dạng qua yếu tố quang học
  • Flint – dạng đặc biệt của chert, jasper, hay tuff
  • Ganister – a Cornish term for a palaeosol formed on sandstone
  • Ijolit – đá xâm nhập sâu chưa bão hòa silica đi cùng với nepheline syenit
  • Jadeitit – loại đá rất hiếm được hình thành bởi sự tập trung khoáng vật jadeit pyroxen; một dạng của serpentinit
  • Jasperoid – hematit-silica biến chấn tiếp xúc, tương tự skarn
  • Kenyt – một biến thể của phonolit, được tìm thấy đầu tiên ở Mount Kenya
  • Vogesit – một biến thể của lamprophyr
  • Larvikit – một biến thể của monzonit với bộ ba fenspat microperthitic ở Larvik, Na Uy
  • Litchfieldit – nepheline syenit bị biến chất tiếp xúc phân bố gần Litchfield, Maine
  • Luxullianit – granit chứa tourmalin có kiến trúc khác thường, phân bố ở Luxulyan, Cornwall, England
  • Mangerit – monzonit chứa hypersthen
  • Minett – một biến thể của lamprophyr
  • Novaculit – thành hệ chert được tìm thấy ở Oklahoma, Arkansas và Texas
  • Pyrolit – thành phần hóa học về lý thuyết tương tự như phần trên của manti
  • Granit Rapakivi – loại granit thể hiện kiến trúc rapakivi khác thường
  • Rhomb porphyry – một loại latit có các ban tinh fenspat thoi tự hình
  • Shonkinit – từ cổ để chỉ các đá melitilic và kalsititic; ngày nay đôi khi được sử dụng
  • Taconit – thuật ngữ chỉ thành hệ sắt phân dải được sử dụng chủ yếu ở Hoa Kỳ
  • Teschenit – thực chất là silica chưa bão hòa, gabro chứa analcim
  • Theralit – thực chất là gabro nephelin
  • Variolit – thủy tinh đục

Hết

Trong bài tiếp theo sẽ được xuất bản ngày 26/04/2019, Đá tự nhiên Namstone sẽ gửi tới Quý bạn đọc bài viết: Quy trình khai thác đá tự nhiên.

Mời các bạn đón đọc.

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Danh sách các loại Đá tự nhiên

Danh sách các loại Đá tự nhiên

Namstone.vn – Đây là danh sách các loại đá tự nhiên được tổng hợp theo cách miêu tả của các nhà thạch học.

Họ đá magma

Mẫu andesit (nềm tối) với các hốc được lắp đầu bởi zeolit. Đường kính khoảng 8 cm.
Mẫu andesit (nềm tối) với các hốc được lắp đầu bởi zeolit. Đường kính khoảng 8 cm.

·         Andesit – Đá núi lửa trung tính

·         Anorthosit – đá siêu mafic thành phần chủ yếu là plagiocla

·         Aplit – đá magma xâm nhập hạt rất mịn

·         Basalt – đá núi lửa thành phần mafic

o    Adakit – nhóm đá basalt chứa một lượng tương đối nhỏ các nguyên tố vết yttri và ytterbi

o    Hawaiit – nhóm đá basalt hình thành quần đảo đại dương (điểm nóng)

o    Icelandit

o    Picrit

·         Basanit – đá núi lửa thành phần mafic; thực chất là bazan chưa bão hòa silica

·         Boninit – bazan nhiều đặc trưng bởi pyroxen

·         Carbonatit – đá magma hiếm gặp chứa hơn 50% các khoáng vật carbonat

·         Charnockit – Loại ít gặp của granit chứa pyroxen

o    Enderbit – một dạng của charnockit

Đá phiến sét Limey phủ lên đá vôi. cao nguyên Cumberland, Tennessee
Đá phiến sét Limey phủ lên đá vôi. cao nguyên Cumberland, Tennessee

·         Dacit – đá núi lửa thành phần felsic đến trung tính chứa nhiều sắt.

·         Diabaz hay dolerit – đá magma xâm nhập mafic hình thành trong các dyke hoặc Sill.

·         Diorit – đá magma xâm nhập trung tính hạt thô có thành phần chủ yếu là plagiocla, pyroxen hoặc/và amphibol.

·         Dunit – an ultramafic cumulate rock composed of olivine and accessories.

·         Essexit – đá magma mafic chưa bão hòa silica (thực chất là gabro chứa foid)

·         Foidolit – đá magma chứa hơn >90% khoáng vật feldspathoid.

·         Gabbro – đá magma xâm nhập hạt thô chứa pyroxen và plagiocla, thành phần cơ bản tương tự basalt

·         Granit – đá magma xâm nhập hạt thô chứa orthocla, plagiocla và thạch anh.

·         Granodiorit – đá magma xâm nhập giống granit nhưng thành phần plagiocla > orthocla, hay là một dạng trung gian giữa diorit và granit.

·         Granophyr – đá xâm nhập nông có thành phần giống granit.

·         Harzburgit – một dạng của peridotit; an ultramafic cumulate rock.

·         Hornblendit – a mafic or ultramafic cumulate rock dominated by >90% hornblende.

·         Hyaloclastit – đán núi lửa thành phần chủ yếu là thủy tinh và tuff thủy tinh.

·         Icelandit – đá núi lửa.

·         Ignimbrit – đá núi lửa mảnh vụn.

·         Ijolit – đá xâm nhập bão hòa silica rất hiếm gặp

·         Kimberlit – đá núi lửa siêu mafic hiếm gặp và là nguồn cung cấp kim cương

·         Komatiit – đá núi lửa siêu mafic cổ

·         Lamproit – đá núi lửa giàu natri

·         Lamprophyr – đá xâm nhập siêu mafic giàu natri chủ yếu là phenocryst trên nền feldspar

·         Latit – dạng của andesit không bão hòa silica

·         Lherzolit – đá siêu mafic, thực chất là peridotit

·         Monzogranit – granit chưa bão hòa silica với <5% thạch anh chuẩn

·         Monzonit – đá xâm nhập sâu với <5% thạch anh chuẩn

·         Nephelin syenit – đá xâm nhập sâu chưa bão hòa silica với nephelin thay thế orthocla

·         Nephelinit – đá xâm nhập sâu chưa bão hòa với >90% nephelin

·         Norit – gabro chứa hypersthen

·         Obsidian – một loại thủy tinh núi lửa

·         Pegmatit – đá xâm nhập (hoặc đá biến chất) có các tinh thể lớn

·         Peridotit – đá siêu mafic xâm nhập sâu hoặc cumulate rock thành phần chiếm >90% olivin

·         Phonolit – đá núi lửa chưa bão hòa silica; tương tự nephelin syenit

·         Picrit – bazan chứa olivine.

·         Porphyry – thường là loại đá kiểu granit với kiến trúc porphyr

·         Pseudotachylit – thủy tinh hình thành từ sự tan chảy trong đứt gãy bởi sự ma sát

·         Đá bọt (Pumice) – đá núi lửa hạt mịnh có nhiều lỗ hổng

·         Pyroxenit – đá xâm nhập sâu hạt thô chiếm >90% pyroxen

·         Diorit thạch anh – diorit hơn >5% thạch anh

·         Monzonit thạch anh – đá xâm nhập sâu trung tính, một dạng monzonit với 5-10% thạch anh

·         Rhyodacit – đá núi lửa thành phần felsic, một dạng trung gian giữa rhyolit và dacit

·         Rhyolite – đá núi lửa thành phần felsic

o    Comendit – rhyolit peralkaline

o    Pantellerit – rhyolit-rhyodacit kiềm với các ban tinh amphibol

·         Scoria – đá núi lửa mafic nhiều lỗ hổng

·         Sovit – đá carbonatit hạt thô

·         Syenit – đá núi lửa sâu thành phần chính là fenspat orthocla; một dạng của granitoid

·         Tachylyt – giống thủy tinh bazan

·         Tephrit – đá núi lửa chưa bão hòa silica

·         Tonalit – granitoid nhiều plagiocla

·         Trachyandesit – đá núi lửa kiềm trung gian

o    Benmoreit – trachyandesit natri

o    Basaltic trachyandesit

§  Mugearit – trachyandesit bazan natri

§  Shoshonit – trachyandesit bazan kali

·         Trachyt – đá núi lửa chưa bão hòa silica; thực chất là rhyolit chứa feldspathoid

·         Troctolit – đá magma xâm nhập sâu siêu mafic chứa olivin, pyroxen và plagioclas

·         Trondhjemit – một dạng của tonalit với fenspat là oligocla

·         Tuff – đá núi lửa hạt mịn được tạo thành từ tro núi lửa

·         Websterit – một dạng của pyroxenit, có thành phần clinoproxen và orthopyroxen

·         Wehrlit – đá xâm nhập sâu siêu mafic, một dạng của peridotit, có thành phần gồm olivin và clinopyroxen

Họ đá trầm tích

·         Anthracit – một dạng của than đá

·         Argillit – đá trầm tích có thành phần chủ yếu là hạt cỡ sét

·         Arkose – đá trầm tích giống cát kết

·         Thành hệ sắt phân dải – đá trầm tích hóa học hạt mịn thành phần chủ yếu là khoáng vật ôxít sắt

·         Breccia – đá trầm tích hoặc kiến tạo có thành phần là mảnh vụn của các đá khác

·         Cataclasit – đá thành tạo bởi hoạt động đứt gãy

·         Đá phấn – đá trầm tích có thành phần chủ yếu là hóa thạch coccolith

·         Chert – đá trầm tích hóa học hạt mịn thành phần là silica

·         Sét kết – đá trầm tích được hình thành từ sét

·         Than đá – đá trầm tích được hình thành từ vật chất hữu cơ

·         Cuội kết – đá trầm tích là các mảnh vỡ lớn tròn cạnh của các đá khác

o    Diamictit – Cuội kết chọn lọc kém

Tầng than bitum ở Tây Virginia
Tầng than bitum ở Tây Virginia

·         Coquina – đá carbonat được hình thành từ sự tích tụ của mảnh vụn và hóa thạch của vỏ sò

·         Diatomit – đá trầm tích được hình thành từ các hóa thạch diatom

·         Dolomit hay dolostone – đá carbonat có thành phần chủ yếu là khoáng vật dolomit +/- canxit

·         Evaporit – đá trầm tích hóa học hình thành từ sự lắng đọng các khoáng vật sau khi bốc hơi

·         Flint – một dạng của chert

·         Greywacke – một dạng trung gian giữa cát và cát kết (chưa thành cát kết) với thành phần gồm thạch anh, fenspat và mảnh vụn đá trong hỗn hợp sét

·         Gritstone – thực chất là các kết hạt thô hình thành từ sạn hạt nhỏ

·         Itacolumit – cát kết mày vàng có lỗ rỗng

·         Jaspillit – đá trầm tích hóa học giàu sắt tương tự như chert hoặc thành hệ sắt tạo dải

·         Lignit – Than nâu, đá trầm tích thành phần gồm các vật liệu hữu cơ;

·         Đá vôi (Limestone) -đá trầm tích thành phần chủ yếu là khoáng vật cacbonat

·         Marl – đá vôi có chứa một tỷ lệ khoáng vật silicat nhất định

·         Đá bùn – đá trầm tích thành phần gồm sét và bùn

·         Đá phiến dầu – đá trầm tích thành phần chủ yếu là vật liệu hữu cơ

·         Oolit – đá trầm tích hóa học (một loại đá vôi)

·         Cát kết – đá trầm tích mảnh vụn theo kích thước hạt

·         Đá phiến sét -đá trầm tích mảnh vụn theo kích thước hạt

·         Bột kết – đá trầm tích mảnh vụn theo kích thước hạt

·         Turbidit – đá trầm tích phân lớp được hình thành trong môi trường biển sâu

·         Wackestone – đá trầm tích khung carbonat

 

Hết phần 1.

 

Xem thêm Phần 2: danh sách tên đá tự nhiên thuộc dòng đá biến chất và các loại đá đặc biệt khác.

 

Trân trọng./

 

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Đá tự nhiên – Đá biến chất

Namstone.vn – Đá biến chất được hình thành từ sự biến tính của đá mácma, đá trầm tích, thậm chí cả từ đá biến chất có trước, do sự tác động của nhiệt độ, áp suất cao (nhiệt độ lớn hơn 150 đến 200 °C và áp suất khoảng trên 1500 bar) và các chất có hoạt tính hoá học, gọi là quá trình biến chất.

Lịch sử hình thành đá biến chất

Các chất có hoạt tính hoá học thường gặp nhất là nước và axit cacbonic thường xuyên có trong tất cả các loại đất, đá. Tính chất của đá biến chất do tình trạng biến chất và thành phần của đá trước khi bị biến chất. Dưới sự tác động của các tác nhân biến chất, các thành phần của đá có thể tái kết tinh ở trạng thái rắn và sắp xếp lại. Tác dụng biến chất không những có thể cải biến cấu trúc của đá mà còn làm thay đổi thành phần khoáng vật của nó.

Trong quá trình biến chất do tác động của áp lực và sự tập hợp nhiều loại kết tinh nên đá biến chất thường rắn chắc hơn đá trầm tích; nhưng đá biến chất từ đá mácma thì do cấu tạo dạng phiến mà tính chất cơ học của nó kém đá mácma.

Các đá biến chất chiếm phần lớn trong lớp vỏ của Trái Đất và được phân loại dựa trên cấu tạo, và thành phần hóa học và khoáng vật hay còn gọi là tướng biến chất. Chúng có thể được tạo ra dưới sâu trong lòng đất bởi nhiệt độ và áp suất cao hoặc được tạo ra từ các quá trình kiến tạo mảng như va chạm giữa các lục địa, và cũng được tạo ra khi khối mác ma có nhiệt độ cao xâm nhập lên lớp vỏ của Trái Đất làm các đá có trước bị biến đổi.

Lưu ý quan trọng: Đây là những kiến thức cơ bản về Đá tự nhiên được xây dựng bởi những con người ở Namstone dày công tâm huyết tổng hợp để gửi tới các bạn đọc, các khách hàng muốn tìm hiểu và sử dụng đá tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình mình hay trong những nơi mình làm việc.

Khoáng vật trong đá biến chất

Các khoáng vật tạo đá biến chất chủ yếu là những khoáng vật nằm trong đá mácma, đá trầm tích và cũng có thể là các khoáng vật đặc biệt chỉ có ở trong các loại đá biến chất dưới sâu như sillimanit, kyanit, staurolit, andalusit, và granat

Các khoáng vật khác cũng được tìm thấy như olivin, pyroxen, amphibol, mica, fenspat, và thạch anh nhưng không nhất thiết là kết quả của quá trình biến chất. Các khoáng vật này bền vững ở điều kiện nhiệt độ và áp suất cao nên chúng ít bị biến đổi hóa học trong quá trình biến chất. Tuy nhiên, các khoáng vật trên chỉ không bị biến đổi trong một giới hạn nhất định, sự có mặt của một số koáng vật trong đá biến chất phản ánh nhiệt độ và áp suất hình thành chúng.

Sự thay đổi kích thước hạt của đá trong quá trình biến chất được gọi là quá trình tái kết tinh. Ví dụ, các tinh thể canxít trong đá vôi kết tinh thành các hạt lớn hơn trong đá hoa, hay cát kết bị biến chất sự kết tinh của các hạt thạch anh ban đầu tạo thành đá quartzit rất chặt thường gồm các tinh thể thạch anh lớn hơn đan xen vào nhau. Cả hai yếu tố là nhiệt độ và áp suất cao đều tạo ra sự tái kết tinh. Nhiệt độ cao cho phép các nguyên tử và ion di chuyển và làm sắp xếp lại các tinh thể, còn áp suất làm cho các tinh thể hòa tan tại các vị trí chúng tiếp xúc nhau.

Phần lớn đá biến chất (trừ đá hoa và đá quartzit) là quá nửa khoáng vật của nó có cấu tạo dạng phiến gồm các lớp song song nhau, dễ tách thành những phiến mỏng.

Cấu tạo đá biến chất

Sự hình thành các lớp nằm trong các đá biến chất được gọi là sự phân phiến. Các lớp này được hình thành do lực nén ép theo một trục trong quá trình tái kết tinh, và đồng thời tạo ra các khoáng vật kết tinh dạng tấm như mica, clorit có mặt phẳng vuông góc với lực tác dụng. Cấu tạo của đá biến chất được chia thành hai loại là cấu tạo phân phiến và cấu tạo không phân phiến.

Đá có cấu tạo phân phiến là sản phẩm của sự biến dạng đá có trước theo một mặt phẳng, đôi khi tạo ra các mặt cát khai của khoáng vật: ví dụ slat là đá biến chất có cấu tạo phân phiến từ đá phiến sét.

Đá có cấu tạo không phân phiến không có hoa văn (dải) theo từng lớp và được hình thành do ứng suất tác dụng từ nhiều phía hoặc không có các khoáng vật phát triển đặc biệt như phyllit có hạt thô, diệp thạch có hạt thô hơn, gơnai hạt rất thô, và đá hoa.

Một vài loại đá biến chất

Cấu tạo phân phiến bị uốn nếp trong đá biến chất gần Geirangerfjord, Na Uy
Cấu tạo phân phiến bị uốn nếp trong đá biến chất gần Geirangerfjord, Na Uy
  • Đá gơnai(gneiss) hay đá phiến ma: đá gơnai là do đá granit (đá hoa cương)tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng của áp lực cao thuộc loại biến chất khu vực, tinh thể hạt thô, cấu tạo dạng lớp hay phân phiến – trong đó những khoáng vật như thạch anh màu nhạt, fenspat và các khoáng vật màu sẫm, mica xếp lớp xen kẽ nhau trông rất đẹp. Do cấu tạo dạng lớp nên cường độ theo các phương khác cũng khác nhau, dễ bị phong hoá và tách lớp. Đá gơnai dùng chủ yếu để làm tấm ốp lòng bờ kênh, lát vỉa hè.
  • Đá hoa: là loại đá biến chất tiếp xúc hoặc biến chất khu vực, do tái kết tinh từ đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao. Đá hoa bao gồm những tinh thể lớn hay nhỏ của canxit, thỉnh thoảng có xen các hạt đôlômit liên kết với nhau rất chặt. Đá hoa có nhiều màu sắc như trắng, vàng, hồng, đỏ, đen… xen lẫn những mảnh nhỏ và vân hoa. Cường độ chịu nén 1.200 kg/cm², đôi khi đến 3.000 kg/cm², dễ gia công cơ học, dễ mài nhắn và đánh bóng. Đá hoa được dùng làm đá tấm ốp trang trí mặt chính, làm bậc cầu thang, lát sàn nhà, làm cốt liệu cho bê tông, granito.
  • Đá quartzit (quăczit) là sa thạch hoặc cát kết thạch anh tái kết tinh tạo thành. Đá màu trắng đỏ hay tím, chịu phong hoá tốt, cường độ chịu nén khá cao (4.000 kg/cm²), độ cứng lớn. Quartzit được sử dụng để xây trụ cầu, chế tạo tấm ốp, làm đá dăm, đá hộc cho cầu đường, làm nguyên liệu sản xuất vật liệu chịu lửa.
  • Đá bản: có cấu tạo dạng phiến, tạo thành từ sự biến chất của đá trầm tích kiểu đá phiến sét dưới áp lực cao. Đá màu xám sẫm, ổn định đối với không khí, không bị nước phá hoại và dễ tách thành lớp mỏng. Diệp thạch sét dùng làm vật liệu lợp rất đẹp.

Các kết cấu đá biến chất

Năm kết cấu đá biến chất cơ sở với các kiểu đá điển hình là:

  • Dạng đá bản (bản nham): Đá bản và phyllit; sự phân phiến gọi là ‘cát khai đá bản’
  • Dạng diệp thạch (đá phiến, phiến nham): Diệp thạch hay đá phiến; sự phân phiến gọi là ‘cát khai đá phiến’
  • Dạng gơnai (đá phiến ma, phiến ma nham): Gơnai; sự phân phiến gọi là ‘cát khai gơnai’
  • Dạng granoblastic: Granulit, một vài dạng cẩm thạch (đá hoa) và quartzit
  • Dạng đá sừng: Đá sừng và skarn

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Đá tự nhiên Mác Ma – Phần cuối

Namstone.vn – Ở phần trước Công ty đá tự nhiên Namstone giới thiệu tới các bạn đọc bài viết:

Bài viết hôm nay, Đá tự nhiên Namstone sẽ giới thiệu tới các bạn bài viết: Đá tự nhiên Mác Ma – Phần 2 và cũng là phần cuối của bài viết này.

Lưu ý quan trọng: Đây là những kiến thức cơ bản về Đá tự nhiên được xây dựng bởi những con người ở Namstone dày công tâm huyết tổng hợp để gửi tới các bạn đọc, các khách hàng muốn tìm hiểu và sử dụng đá tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình mình hay trong những nơi mình làm việc.

Nhắc lại – Khái niệm đá tự nhiên Mác Ma

Đá mácma hay đá magma là những loại đá được thành tạo do sự đông nguội của những dung thể magma nóng chảy được đưa lên từ những phần sâu của vỏ Trái Đất. Quá trình đông nguội có thể tạo ra các đá có các khoáng vật kết tinh rõ ràng hoặc không kết tinh tùy thuộc vào môi trường mà khối magma đông nguội, và dựa vào đó người ta ta phân ra: đá xâm nhập và phun trào. Macma này có thể có nguồn gốc từ manti của Trái Đất hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước đó bị nóng chảy do các thay đổi nhiệt độ áp suất cực cao. Trên 700 loại đá mácma đã được miêu tả lại, phần lớn trong chúng được tạo ra gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất.

Khoáng vật: Hàm lượng khoáng vật của Fe và Si hay mafic:

  • Đá felsic, chủ yếu chứa thạch anh, fenspat kiềm và/hoặc khoáng vật chứa fenspat: các khoáng vật của Fe và Si; các dạng đá này (ví dụ granit) thông thường có máu sáng và có tỷ trọng thấp.
  • Đá mafic, chủ yếu chứa các khoáng vật mafic: pyroxen, olivin và plagiocla canxi; các loại đá này (ví dụ đá bazan) thông thường sẫm màu và có tỷ trọng lớn hơn đá felsic.
  • Đá siêu mafic, chứa trên 90% khoáng chất mafic (ví dụ dunit)
  • Bảng dưới đây là sự phân chia đơn giản đá lửa theo cả thành phần và phương thức diễn ra.

Bảng dưới đây là sự phân chia đơn giản đá lửa theo cả thành phần và phương thức diễn ra.

Thành phần
Phương thức diễn ra Axít Trung gian Bazơ Siêu bazơ
Xâm nhập Granit Điôrit Gabbrô Periđôtit
Phun trào Riôlit Anđêsit Bazan

Để có sự phân loại chi tiết hơn, xem Biểu đồ QAPF.

Các khoáng vật tạo đá chủ yếu

Các khoáng vật tạo đá mácma chủ yếu: thạch anh, fenspat, mica và khoáng vật màu.

Các khoáng vật có các tính chất khác nhau, nên sự có mặt của chúng tạo ra cho đá có những tính chất khác nhau (cường độ, độ bền vững, khả năng gia công…)

  • Thạch anh là SiO2 ở dạng kết tinh, tinh thể hình lăng trụ 6 cạnh, ít khi trong suốt mà thường có màu trắng và trắng sữa, độ cứng 7, khối lượng riêng 2,65 g/cm3, cường độ cao khoảng 20.000 kg/cm2, chống mài mòn tốt, ổn định đối với axit (trừ axit fluohidric và fosforic). Ở nhiệt độ thường, thạch anh không tác dụng với vôi, nhưng ở trong môi trường hơi nước bão hoà và nhiệt độ 175 – 2000C có thể sinh ra phản ứng silicat.
  • Fenspat có hai loại:
    • Cát khai thẳng góc-octola (K2O.Al2O3.6SiO2 – fenspat kali)
    • Cát xiên góc – plagiocla (Na2O.Al2O3.6SiO2 – fenspat natri và CaO.Al2O3.2SiO2 – fenspat canxi).
    • Tính chất cơ bản của fenspat: màu biến đổi từ trắng, trắng xám, vàng đến hồng và đỏ; khối lượng riêng: 2,55 – 2,76 g/cm3, độ cứng 6 – 6,5, cường độ chịu nén 1200 – 1700 kg/cm2. Khả năng chống phong hoá của felspat kém, kém ổn định đối với nước và đặc biệt là nước có chứa CO2 tạo ra Al2O3.2SiO2.2H2O là caolonit – thành phần chủ yếu của đất sét- theo phản ứng: K2O.Al2O3.6SiO2 + CO2 +2H2O –> K2CO3 + 4SiO2 + Al2O3.2SiO2.2H2O
  • Mica là những alumôsilicat ngậm nước rất phức tạp, có độ cứng 2-3, khối lượng riêng 2,76 – 3,2 g/cm3. Phổ biến nhất là hai loại biotit và muscovit.
    • Biotit có màu nâu đen hay còn gọi là mica đen, thường chứa ôxít magiê và ôxít sắt, công thức: (Mg, Fe)3.Si3.AlO10.OHF)2.
    • Muscovit thì trong suốt hay còn gọi là mica trắng, có công thức: K2O. Al2O3.6SiO2.2H2O.
    • Ngoài hai loại trên còn gặp vecmiculit được tạo thành do sự oxy hoá và hydrat hoá biotit. Khi nung ở 900 – 10000 độ C nước sẽ mất đi, thể tích vecmiculit tăng 18 – 25 lần.
  • Khoáng vật sẫm màu chủ yếu gồm amphibol, pyroxen, olivin là các khoáng vật có màu sẫm (từ màu lục đến màu đen) cường độ cao, dai và bền, khó gia công.

? THAM KHẢO MỘT SỐ DÒNG ĐÁ TỰ NHIÊN NAMSTONE ĐANG CUNG CẤP

Sử dụng

Đá mácma xâm nhập

  • Dunit là loại đá xâm nhập sâu của nhóm đá siêu mafic. Thành phần khoáng vật gồm chủ yếu là olivin với hơn 90%,pyroxen, hocblen thì hiếm hơn, ngoài ra còn có mica, cromit.Cấu tạo đặc sít, đôi khi phân dải. Kiến trúc hạt thô.
  • Granit (đá hoa cương) là loại đá axit có ở nhiều nơi, chủ yếu do thạch anh, fenspat và một ít mica, có khi còn tạo thành cả amphibol và pyroxen. Granit có màu tro nhạt, hồng nhạt hoặc vàng, phần lớn có kết tinh hạt lớn.
  • Granit rất đặc chắc, khối lượng thể tích 2600 – 2700 kg/m3, cường độ nén rất lớn (1200 – 2500 kg/cm2), độ hút nước nhỏ (dưới 1%), khả năng chống phong hoá rất cao, độ chịu lửa kém, có một số loại có màu sắc đẹp. Đá granit được sử dụng rộng rãi trong xây dựng (ốp mặt ngoài nhà và các công trình đặc biệt, nhà công cộng, làm nền móng cầu, cống, đập…)
  • Syenit là loại đá trung tính, thành phần khoáng vật chủ yếu là Orthoclas, plagiocla, axit, các khoáng vật màu sẫm (amphibol, pyroxen, biotit), một ít mica, rất ít thạch anh. Sienit màu tro hồng, có cấu trúc toàn tinh đều đặn, khối lượng riêng 2,7 -2,9 g/cm3, khối lượng thể tích 2400 – 2800 kg/m3, cường độ chịu nén 1500 – 2000 kg/cm2. Sienit được ứng dụng khá rộng rãi trong xây dựng.
  • Diorit là loại đá trung tính, thành phần chủ yếu là plagiocla trung tính (chiếm khoảng ¾), hocblen, augit, biotit, amphibol và một ít mica và pyroxen. Diorit thường có màu xám, xám lục có xen các vết sẫm và trắng; khối lượng thể tích 2900 – 3300 kg/m3, cường độ chịu nén 2000 – 3500 kg/cm2. Diorit dai, chống va chạm tốt, chống phong hoá cao, dễ đánh bóng, nên được sử dụng để làm mặt đường, tấm ốp.
  • Gabbro là loại đá bazơ, thành phần gồm có plagiocla bazơ (khoảng 50%) và các khoáng vật màu sẫm như pyroxen, amphibol và olivin. Gabbro có màu tro sẫm hoặc từ lục thẫm đến đen, đẹp, có thể mài nhẵn, khối lượng thể tích 2900 – 3300 kg/m3, cường độ chịu nén 2000 – 3500 kg/cm3. Gabbro được sử dụng làm đá dăm, đá tấm để lát mặt đường và ốp trang trí các công trình kiến trúc.

Đá mácma phun trào

  • Diaba có thành phần tương tự gabbro, là loại đá magma xâm nhập nông có thành phần mafic, có kiến trúc hạt nhỏ, hạt vừa xen lẫn với kiến trúc hiển tinh. Thành phần khoáng vật gồm có fenspat, pyroxen, olivin, màu tro sẫm hoặc lục nhạt, cường độ nén 3000 – 4000 kg/cm2. Đá diaba rất dai, khó mài mòn, được sử dụng chủ yếu làm đá rải đường và làm nguyên liệu đá đúc.
  • Bazan là loại đá bazơ, thành phần khoáng vật giống đá gabbro. Chúng có kiến trúc vi tinh hoặc kiến trúc pocfia. Đá bazan là loại đá nặng nhất trong các loại đá mácma, khối lượng thể tích 2900 – 3500 kg/cm3, cường độ chịu nén 1000 – 5000 kg/cm2 (có loại cường độ đến 8000 kg/cm2), rất cứng, giòn, khả năng chống phong hoá cao, rất khó gia công. Đá bazan là loại đá phổ biến nhất trong xây dựng, được sử dụng để lát đường làm cốt liệu bê tông, tấm ốp chống ăn mòn…
  • Andesit là loại đá trung tính. Thành phần của nó gồm plagiocla trung tính, các khoáng vật sẫm màu (amphibol, pyroxen) và mica; có kiến trúc ẩn tinh và kiến trúc dạng pocfia; có màu tro vàng, hồng, lục. Đá andesit có khả năng hút nước lớn, khối lượng thể tích 2200 ÷ 2700 kg/m3, cường độ chịu nén 1200 – 2400 kg/cm2, chịu được axit nên được dùng để làm vật liệu chống axit.

Đá trầm tích núi lửa

Ngoài các loại đá đề cập ở trên, trong đá mácma phun trào còn có đá bọt, tuf, tro và tuf dung nham. Các loại đá này bên cạnh việc hình thành do kết tinh nhanh như đá phun trào còn lắng đọng theo quy luật trầm tích. Nhiều tác giả Liên Xô cũ xếp loại đá này sang đá trầm tích.

  • Tro núi lửa: thưởng ở dạng bột, giống nhau màu xám. Những hạt lớn gọi là cát núi lửa. Đá bọt, là loại thuỷ tinh núi lửa có độ rỗng cao (độ rỗng đến 80%) được tạo thành khi tro núi lửa lắng đọng từ không khí. Đá bọt có kích thước 5-30mm, khối lượng thể tích 500 kg/m3, độ hút nước thấp vì các lỗ rỗng lớn và các lỗ rỗng ít liên thông nhau, hệ số truyền nhiệt nhỏ (0,12 – 0,2 kCal/m.0C.h, cường độ chịu nén 20 – 30 kg/cm2. Cát núi lửa, đá bọt được dùng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ, còn bột thì làm vật liệu cách nhiệt và bột mài.
  • Tuf núi lửa: là loại đá rỗng, được tạo thành do quá trình tự lèn chặt tro núi lửa. Loại tuf núi lửa chặt nhất gọi là tơrat. Tuf núi lửa đá bọt cũng như tro núi lửa thường dùng làm phụ gia hoạt tính chịu nước cho chất kết dính vô cơ.
  • Tuf dung nham do tro và cát núi lửa rơi vào trong dung nham nóng chảy sinh ra. Nó là loại đá thuỷ tinh rỗng có màu hồng, tím…, khối lượng thể tích 750 ÷ 1400 kg/m3, cường độ chịu nén 60 – 100 kg/cm2, hệ số dẫn nhiệt trung bình là 0,3 kCal/m.0C.h. Trong xây dựng, tup dung nham được xẻ thành đá hộc để xây tường, sản xuất đá dăm cho bê tông nhẹ.

Nguồn gốc và phân bố

Lớp vỏ Trái Đất dày khoảng 35 km (22 dặm) tại các phần dưới các vỏ lục địa, nhưng trung bình chỉ khoảng 7 km (4,3 dặm) dưới các đại dương. Nó được tạo thành từ các loại đá có tỷ trọng tương đối thấp, và gần với lớp vỏ là các loại đặc hơn của lớp phủ, chúng mở rộng tới độ sâu gần 3.000 km (1.860 dặm). Phần lớn macma tạo thành đá mácma được sinh ra trong các phần phía trên của lớp phủ ở nhiệt độ khoảng từ 600 đến 1.600 °C.

Khi macma nguội đi, các khoáng vật sẽ kết tinh từ hỗn hợp nóng chảy ở các nhiệt độ khác nhau (quá trình kết tinh phân đoạn). Có tương đối ít khoáng vật có vai trò quan trọng trong sự hình thành của đá mácma. Có điều này là do macma nguồn chỉ giàu một số nguyên tố nhất định: silíc, ôxy, nhôm, natri, kali, canxi, sắt và magiê. Chúng là các nguyên tố khi kết hợp với nhau tạo ra các khoáng vật silicat, là các loại khoáng chất chiếm trên 90% thành phần các loại đá mácma.

Các loại đá mácma chiếm khoảng 95% toàn bộ phần phía trên của lớp vỏ Trái Đất, nhưng chúng phân bố phổ biến hơn ở bên dưới lớp đá trầm tích và đá biến chất tương đối mỏng nhưng phân bố rộng.

Hình ảnh Đá mác ma

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Đá tự nhiên Mác Ma

Namstone.vn – Trong loạt bài viết serial: Tìm hiểu các loại đá tự nhiên trong thiên nhiên đã được Ban biên tập của Công ty đá tự nhiên Namstone giới thiệu tới các bạn đọc bài viết:

thì ở phần này Đá tự nhiên Namstone sẽ giới thiệu tới các bạn bài viết: Đá tự nhiên Mác Ma.

Lưu ý quan trọng: Đây là những kiến thức cơ bản về Đá tự nhiên được xây dựng bởi những con người ở Namstone dày công tâm huyết tổng hợp để gửi tới các bạn đọc, các khách hàng muốn tìm hiểu và sử dụng đá tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình mình hay trong những nơi mình làm việc.

A – Khái niệm đá tự nhiên Mác Ma

Đá Basalt breccia
Đá Basalt breccia

Đá mácma hay đá magma là những loại đá được thành tạo do sự đông nguội của những dung thể magma nóng chảy được đưa lên từ những phần sâu của vỏ Trái Đất. Quá trình đông nguội có thể tạo ra các đá có các khoáng vật kết tinh rõ ràng hoặc không kết tinh tùy thuộc vào môi trường mà khối magma đông nguội, và dựa vào đó người ta ta phân ra: đá xâm nhập và phun trào. Macma này có thể có nguồn gốc từ manti của Trái Đất hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước đó bị nóng chảy do các thay đổi nhiệt độ áp suất cực cao. Trên 700 loại đá mácma đã được miêu tả lại, phần lớn trong chúng được tạo ra gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất.

B – Ý nghĩa địa chất

1) Đá mácma có ý nghĩa quan trọng về mặt địa chất do:

Các khoáng vật và tính chất hóa học tổng thể của chúng cung cấp thông tin về thành phần của lớp vỏ Trái Đất tại những đá mácma được hình thành cũng như các điều kiện về nhiệt độ và áp suất hình thành nên đá và thông tin về các loại đá trước đó bị nóng chảy;

Niên đại tuyệt đối của chúng có thể được thực hiện bằng các phương pháp định tuổi bằng đồng vị phóng xạ khác nhau và vì thế có thể so sánh với các địa tầng địa chất cận kề, cho phép miêu tả lại thời gian diễn ra các sự kiện một cách tương đối chính xác;

Các đặc điểm của chúng thông thường được đặc trưng bởi các điều kiện của môi trường kiến tạo cụ thể, cho phép tái tạo lại các mô hình kiến tạo (Xem thêm kiến tạo mảng);

Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, chúng là nguồn gốc của một số mỏ khoáng sản quan trọng: ví dụ vonfram, thiếc và urani, thông thường hay đi cùng với đá granite.

Phun trào núi lửa và vì thế bị làm cứng và đông đặc trong điều kiện phơi ra ngoài khí quyển. Do nguội nhanh trong điều kiện nhiệt độ và áp suất thấp, các khoáng vật không kịp kết tinh, hoặc chỉ là kết tinh một phần nên có kích thước tinh thể bé, chưa hoàn chỉnh, hoặc tồn tại ở dạng vô định hình. Mặt khác, các chất khí và hơi nước không kịp thoát ra, để lại nhiều lỗ rỗng, làm cho đá nhẹ, có loại nổi trên mặt nước.

Ngoài ra, đá phun trào cũng được còn gọi là đá núi lửa, trong ngôn ngữ một số tiếng nước ngoài như tiếng Anh chẳng hạn, gọi là volcanic rock, lấy theo tên của Vulcan còn là tên gọi của người La Mã để chỉ vị thần cai quản lửa. Ở độ sâu vài kilômét dưới bề mặt Trái Đất thì nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ mà phần lớn các loại đá có thể nóng chảy tại bề mặt. Tuy nhiên, các loại đá này vẫn ở dạng cứng do áp suất lớn tạo ra bởi các lớp đá nằm phía trên. Nếu như có các khe nứt trong các lớp đá thì áp suất bị tụt xuống và một khối lượng đáng kể đá bị nóng chảy. Đá Macma tạo ra sẽ bị ép phụt lên trên thông qua các kẽ nứt tới bề mặt và tạo thành núi lửa.

Đá tự nhiên Namstone
Đá tự nhiên Namstone

Đá nóng chảy (gọi là dung nham hay lava) sẽ chảy ra từ núi lửa và loang rộng. Do dung nham bị nguội và kết tinh nhanh nên nó tạo ra các loại đá có kiến trúc vi tinh. Nếu sự làm nguội là quá nhanh, không cho quá trình kết tinh có thể xảy ra thì các loại đá tạo thành có kiến trúc thủy tinh (chẳng hạn như đá obsidian tức đá vỏ chai).

Do kiến trúc vi tinh nên các dạng khác nhau của đá phun trào khó phân biệt bằng mắt thường hơn so với các dạng khác nhau của đá xâm nhập. Nói chung, với kiến trúc vi tinh các khoáng vật của đá phun trào chỉ có thể xác định bằng cách soi kính thạch học (đá được mài thành các mẫu mỏng và được soi dưới kính hiển vi có hai ni-côn) và sự phân loại bằng mắt thường chỉ là gần đúng.

Các vật chất có thể bị núi lửa tống ra ngoài rất mãnh liệt trong quá trình hoạt động phun trào là các khối, cục đá và tro. Các vật chất này được gọi là đá trầm tích núi lửa (cũng còn gọi là đá vụn núi lửa, tuf) và có thể rơi gần đó, tạo thành một phần của núi lửa hay bị mang đi xa nhờ gió.

Các tinh thể chứa trong đá lửa ban tinh mịn được gọi là pocfia. Kiến trúc pocfia phát triển khi một số tinh thể phát triển lớn đến kích thước đáng kể trước khi phần chủ yếu của macma đông đặc lại thành khối vật liệu đồng nhất hạt mịn.

2) Xâm nhập nông

Khái niệm xâm nhập nông hiện nay vẫn còn một số tranh cãi nhưng đa số các quan điểm cho rằng nó được kết tinh bên dưới mặt đất đến độ sâu 1,5 km.

  • Phân loại

Việc phân loại đá mácma có thể cung cấp cho con người thông tin quan trọng về các điều kiện mà chúng hình thành. Hai yếu tố quan trọng được sử dụng trong phân loại đá lửa là kích thước hạt (phụ thuộc rất nhiều vào lịch sử quá trình làm nguội) và thành phần khoáng vật của đá. Fenspat, thạch anh, olivin, pyroxen, amphibol và mica là các khoáng vật quan trọng trong sự hình thành đá mácma và sự có mặt của chúng là cơ sở để phân loại các loại đá này. Các khoáng vật khác có mặt trong đá không điển hình được gọi là khoáng chất phụ.

Trong phân loại đơn giản hóa, các dạng đá mácma được chia trên sự hiện diện của fenspat, sự có/vắng mặt của thạch anh và trong các loại đá không có fenspat hay thạch anh thì theo sự có mặt của các khoáng vật chứa sắt hay magiê.

  • Kích thước tinh thể

Theo kích thước tinh thể, đá mácma có thể phân loại thành pecmatit (hạt rất lớn), hiển tinh (chỉ có hạt lớn hay phanerit), ban tinh (một số hạt lớn trên nền là các hạt nhỏ hay pocfia), vi tinh (chỉ có hạt nhỏ hay aphanit), thủy tinh (không có hạt).

Đá có kiến trúc hiển tinh chứa các khoáng vật với tinh thể nhìn thấy bằng mắt thường và thường đặc trưng cho đá xâm nhập (do quá trình làm nguội càng chậm thì tinh thể càng to). Trong một số ngoại lệ, dạng đá này có thể chứa các tinh thể cực lớn, trong trường hợp này chúng được gọi là pecmatit.

Đá Olivine basalt
Đá Olivine basalt

Trong đá phun trào, khi quá trình làm nguội là nhanh hơn, các tinh thể khoáng vật riêng rẽ thông thường không nhìn thấy được bằng mắt thường và chúng được gọi là kiến trúc vi tinh.

Kiến trúc ban tinh là trạng thái trung gian giữa hai loại trên: khối đá có kiến trúc vi tinh, nhưng trên nền vi tinh này có thể quan sát được một số tinh thể.

Nếu macma nóng chảy bị làm nguội quá nhanh không cho quá trình kết tinh diễn ra thì sản phẩm tạo ra là có kiến trúc thủy tinh như thủy tinh núi lửa hay opxidian đôi khi còn được gọi là đá vỏ chai.

  • Hình dạng tinh thể

Hình dạng tinh thể cũng là yếu tố quan trọng trong kiến trúc đá mácma. Các tinh thể có thể là tự hình, bán tự hình và tha hình:

Tự hình (Euhedral), nếu hình dạng tinh thể được bảo toàn hay tinh thể có các mặt kết tinh rõ ràng.

Bán tự hình (Subeuhedral), nếu chỉ một phần được bảo toàn.

Tha hình (Anhedral), nếu tinh thể không thể hiện rõ ràng hướng kết tinh có thể nhận biết được.

  • Theo cấu tạo

Cấu tạo lỗ hổng là đá có các khoảng trống sinh ra bởi khí bị chiếm giữ trong quá trình nguội đi.

Cấu tạo dòng chảy được hình thành khi mácma chảy tràn trên bề mặt và đông nguội với các tốc độ khác nhau.

Tuf bao gồm các đá vụn có trước hoặc bom núi lửa bị đẩy ra khi núi lửa phun trào gồm một số loại như: tufit, tufogen.

  • Thành phần khoáng vật – hóa học

Các dạng đá mácma có thể phân chia nhỏ theo các thông số hóa học/ khoáng vật tạo đá theo hai hướng chính:

Hóa học: – Tổng hàm lượng kiềm – silica (biểu đồ TAS) cho phân loại đá mácma được sử dụng khi không có các dữ liệu về quá trình hình thành hay thành phần khoáng vật:

  • Các đá mácma axít chứa hàm lượng silica cao, lớn hơn 63% SiO2 (ví dụ rhyolit và dacit)
  • Các đá mácma trung tính chứa 52 – 63% SiO2 (ví dụ andesit)
  • Các đá mácma mafic chứa ít silica (45 – 52%) và thông thường chứa nhiều sắt – magiê (ví dụ đá bazan)
  • Các đá mácma siêu mafic chứa ít hơn 45% silica. (ví dụ picrit và komatiit)
  • Các đá mácma kiềm với 5 – 15% chất kiềm (K2O + Na2O) (ví dụ phonolit và trachyt)

Ghi chú: Thuật ngữ axít-bazơ được sử dụng rộng rãi hơn trong các tài liệu địa chất cũ. Thay vào đó, người ta sử dụng các thuật ngữ felsic, mafic, siêu mafic…

Khoáng vật: Hàm lượng khoáng vật của Fe và Si hay mafic:

  • Đá felsic, chủ yếu chứa thạch anh, fenspat kiềm và/hoặc khoáng vật chứa fenspat: các khoáng vật của Fe và Si; các dạng đá này (ví dụ granit) thông thường có máu sáng và có tỷ trọng thấp.
  • Đá mafic, chủ yếu chứa các khoáng vật mafic: pyroxen, olivin và plagiocla canxi; các loại đá này (ví dụ đá bazan) thông thường sẫm màu và có tỷ trọng lớn hơn đá felsic.
  • Đá siêu mafic, chứa trên 90% khoáng chất mafic (ví dụ dunit)
  • Bảng dưới đây là sự phân chia đơn giản đá lửa theo cả thành phần và phương thức diễn ra.

Hết phần 1.

Mời các bạn theo dõi bài viết chi tiết về đá tự nhiên Đá mácma – phần cuối được đăng tải ngày 17/04/2019, kính mời Quý bạn đọc đón chờ.

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Tìm hiểu các loại Đá tự nhiên trong thiên nhiên – Phần cuối

Tìm hiểu các loại Đá tự nhiên trong thiên nhiên – Phần cuối

Namstone.vn – Tiếp theo bài viết Tìm hiểu các loại đá tự nhiên trong thiên nhiên đã giới thiệu tới các bạn đọc bài viết:

, thì ở phần 3 cũng là phần cuối trong loạt bài Tìm hiểu các loại đá tự nhiên trong thiên nhiên. Namstone sẽ chia sẻ thêm tới các bạn nội dung:

Đá biến chất

Đá biến chất được tạo ra từ sự thay đổi của bất kỳ loại đá nào (bao gồm cả đá biến chất đã hình thành trước đó) đối với các điều kiện thay đổi của môi trường như nhiệt độ và áp suất so với các điều kiện nguyên thủy mà các loại đá đó được hình thành. Các điều kiện nhiệt độ và áp suất này luôn luôn cao hơn so với các chỉ số của chúng ở bề mặt Trái Đất, và phải đủ cao để có thể thay đổi các khoáng chất nguyên thủy thành các dạng khoáng chất khác hoặc thành các dạng khác của cùng một khoáng chất (ví dụ bằng sự tái kết tinh).

Gneiss, đá biến chất cấu tạo phân phiến hình thành trong quá trình biến chất khu vực. Hình ảnh: internet
Gneiss, đá biến chất cấu tạo phân phiến hình thành trong quá trình biến chất khu vực. Hình ảnh: internet

Mức độ biến chất của đá có thể được miêu tả qua một số tướng, mỗi tướng đặc trưng bởi một số loại đá có khoáng sản đi kèm trong một giới hạn nhiệt độ và áp suất nhất định. Lý thuyết về tướng biến chất được nhà địa chất Phần Lan, Pentti Eskola đưa ra năm 1915, lý thuyết này là sự phát triển tiếp theo của công trình phiến biến chất được Viktor M. Goldschmidts đưa ra từ thập niên 1900.

Trong trường hợp nhiệt độ là yếu tố chính thì biến chất xảy ra theo đường màu xanh lá cây (hình bên) tạo ra đá biến chất tướng amphibolit và granulit. Trong trường hợp va mảng mà yếu tố chi phối là áp lực thì tạo nên tướng đá phiến lam và eclogit.

Môi trường biến chất

Biến chất khu vực xảy ra trong khu vực rộng lớn, chẳng hạn như các dãy núi. Khi các mảng kiến tạo hội tụ và các tầng trên của các lớp gấp lại và ép xuống làm những lớp đá hình thành trước bị lún sâu hơn, bên trên là những lớp trầm tích mới tích tụ dần gây nên áp lực và nhiệt độ gia tăng. Điều này dẫn đến cả hai quá trình tái kết tinh và thay đổi cấu trúc. Loại đá này có tính phân phiến (lớp mỏng) nên tính chất cơ học kém hơn đá mácma. Ví dụ Đá gơnai (do đá granit tái kết tinh), phiến sét (do sự biến chất của đất sét dươi áp lực cao).

Biến chất tiếp xúc xảy ra khi đá nằm bên cạnh một khối mácma bị ảnh hưởng bởi nhiệt từ mácma. Kích thước của mácma ảnh hưởng đến khoảng cách mà khối đá có trước bị biến chất. Trong một thể magma lớn, giống như một thể batolit lớn có thể đến vài km, thì lớp biến chất tiếp xúc có thể chỉ vài cm. Biến chất tiếp xúc xảy ra ở tất cả các độ sâu trong lớp vỏ, nhưng là rõ ràng nhất khi nó xảy ra gần bề mặt, bởi vì áp lực thấp, và độ lệch nhiệt độ quá lớn. Vì biến chất tiếp xúc không liên quan đến bất kỳ áp lực nào tác động lên nên các tinh thể không định hướng theo bất kỳ hướng nào. Ví dụ đá hoa (do tái kết tinh đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao mà thành), thạch anh (biến chất từ cát)…

Biến chất nhiệt dịch xảy ra khi dòng nhiệt dịch nóng xen vào trong các khe nứt làm ảnh hưởng đến khối đá có trước. Điều này thường xảy ra trong các khe nứt của các hoạt động lửa, vì điều này góp phần ra nhiệt cần thiết.

Biến chất va chạm xảy ra khi thiên thạch va chạm bề mặt đất, do động năng rất lớn của thiên thạch được chuyển thành nhiệt và áp suất trong đá bị va chạm. Trong một số trường hợp, những tác động này tạo thành các coesit, một loại silica mật độ lớn, và thậm chí hình thành các hạt kim cương nhỏ. Sự hiện diện của các khoáng chất như trên cho thấy rằng ít nhất là thiên thạch đã tạo ra áp lực và nhiệt độ gây biến đổi phần trên cùng, nơi mà các khoáng vật thường được hình thành.

Cấu tạo

Cấu tạo đặc trưng của đá biến chất là phân phiến, đó là sự sắp xếp có định hướng của các khoáng vật dưới tác động của áp suất chính trong quá trình hình thành đá biến chất, ví dụ như đá gneiss, đá phiến lam, đá phiến lục. Phương áp lực sẽ vuông góc với mặt phẳng chứa các phiến. Dựa vào đặc điểm này, người ta có thể tái hiện môi trường kiến tạo vào lúc mà đá đó được hình thành. Tuy nhiên, không phải đá biến chất nào cũng có cấu tạo phân phiến. Các đá không có cấu tạo phân phiến như quartzit, đá hoa, đá sừng.

Thiên thạch

Thiên thạch là một loại đá có nguồn gốc trong không gian chứ không phải hình thành trên Trái Đất. Một số thiên thạch có thể là dấu tích còn sót lại từ sự hình thành hệ Mặt Trời cách nay hơn 4,6 tỷ năm. Thiên thạch thường bao gồm khoáng vật silicat (95%) và rất nhiều hợp kim sắt- niken, hoặc sự kết hợp cả hai (5%).

Thiên thạch sắt bao gồm hợp kim sắt-niken và chiếm khoảng 3,8% của tất cả thiên thạch. Chúng được cho là bao gồm các vật liệu từ lõi của các tiểu hành tinh bị gián đoạn. Thiên thạch sắt rơi vào ba nhóm tùy thuộc vào thành phần niken/sắt và cấu trúc tinh thể; hexahedriter chứa 4-6% niken, octahedriter chứa 6-12% niken và ataxiter chứa nhiều hơn 12% niken. Cấu trúc tinh thể của hexahedriter giống như một hình chữ nhật, octahedriter có mô hình lục giác và ataxiter không có cấu trúc tinh thể khác nhau.

Thiên thạch sắt đá bao gồm một hỗn hợp xấp xỉ bằng hợp kim sắt-niken và khoáng chất silicat và tương ứng với khoảng 0,5% của tất cả các thiên thạch được biết đến. Chúng được cho là thành tạo từ vật liệu từ khu vực tiếp giáp giữa lõi thiên thể và lớp vỏ của nó.

Sử dụng

Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Thời tiền sử, bắt đầu thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Những công trình bằng đá nổi tiếng như kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem (Tuynizi), Colisée (Ý), Bourgogne (Pháp), Épidayre (Hy Lạp), vv.

Làm vật liệu xây dựng

Là sản phẩm sản xuất từ đá thiên nhiên bằng phương pháp gia công cơ học hoặc do phong hóa tự nhiên như: đá hộc, đá tấm (phiến), đá dăm, cát…

Từ đá thiên nhiên có thể chế tạo một số chất kết dính như xi măng (đá vôi+ đất sét+ nung + clinker, nghiền +PG XM), vôi (nung đá vôi CaCO3), thạch cao xd CaSO4.0.5H2O (nung đá thạch cao CaSO4.2H2O) …

Vật liệu đá xây dựng được sử dụng rộng rãi nhờ có những ưu điểm sau:

  • Cường độ chịu nén cao, Rn cao.
  • Bền vững trong môi trường sử dụng.
  • Dùng để trang trí như đá hoa, đá granit (hay đá hoa cương), đá gabro, đá biến chất tái kết tinh và một số loại đá phiến.[23]
  • Giá thành thấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu địa phương.
  • Bên cạnh đó còn có một số nhược điểm: khối lượng thể tích lớn, quá trình gia công phức tạp, vận chuyển và thi công khó khăn.
Mỏ đá Portland trên đảo Portland, Anh. Đây là loại đá được dùng nhiều trong xây dựng trên đảo Anh như Nhà thờ Thánh Paul và Cung điện Buckingham. Hình ảnh: internet
Mỏ đá Portland trên đảo Portland, Anh. Đây là loại đá được dùng nhiều trong xây dựng trên đảo Anh như Nhà thờ Thánh Paul và Cung điện Buckingham. Hình ảnh: internet

Tính chất các đá làm vật liệu xây dựng bao gồm trọng lượng thể tích và cường độ ở trạng thái khô, như các loại nhẹ (trọng lượng < 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 5, 10, 15, 75, 100, 150 kG/cm2) thường dùng xây tường cho nhà cần cách nhiệt; loại nặng (> 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 100, 150, 200, 400, 600, 800, 1000 kG/cm2) dùng trong các công trình chịu lực, công trình thủy công để xây móng, tường chắn, lớp phủ bờ kè, ốp lát…

  • Theo hệ số mềm, các đá được chia thành 4 cấp:? 0.6; 0.6 – 0.75; 0.75 – 0.9;và? 0.9.
  • Theo yêu cầu sử dụng và mức độ gia công
    • Đá hộc: gia công theo phương pháp nổ mìn. Dùng để xây móng nhà, tường chắn, trụ cầu,
    • Đá đẽo thô, vừa, kỹ tùy theo yêu cầu sử dụng của công trình.
    • Đá kiểu: được chọn lọc kỹ, chất lượng cao, dùng để trang trí cho các công trình.
    • Đá phiến: để ốp lát, trang trí.
    • Đá dăm: làm cốt liệu trộn bê tông.

Mời các bạn theo dõi bài viết chi tiết về đá tự nhiên Đá mácma được đăng tải ngày 15/04/2019, kính mời Quý bạn đọc đón chờ.

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996

Tìm hiểu các loại Đá tự nhiên trong thiên nhiên – Phần 2

Namstone.vn – Tiếp theo bài viết Tìm hiểu các loại đá tự nhiên trong thiên nhiên đã giới thiệu ở phần 1 tới các bạn đọc, thì ở phần tiếp theo này. Namstone sẽ chia sẻ thêm tới các bạn nội dung:

Các loại đá mácma

Đá mácma chia theo thành phần SiO2 và theo môi trường thành tạo được miêu tả trong bảng bên dưới.

Thành phần (% SiO2)
Phương thức diễn ra Felsic (> 66 %[7]) Trung gian (52 – 66% [7]) Mafic (45 – 52% [7]) Siêu mafic (< 45% [7])
Xâm nhập Granit Điôrit Gabbrô Periđôtit
Phun trào Riôlit Anđêsit Bazan
Granit, kiến trúc hạt thô
Granit, kiến trúc hạt thô: Một sản phẩm từ quá trình vận động của vỏ trái đất.

1) Đá mácma xâm nhập

Đá mácma xâm nhập được thành tạo khi dung dịch macma nguội đi và các tinh thể khoáng vật kết tinh chậm bên trong vỏ Trái Đất. Các tinh thể kết tinh rõ ràng, các đá loại này thường có cấu tạo đặc sít. Sự kết tinh của dung dịch mácma trong giai đoạn sau có môi trường thuận lợi để hình thành loại đá có kích thước hạt rất to như pegmatit. Các đá xâm nhập có mặt trong các dãy núi cổ và hiện đại, tuy nhiên chúng chỉ có trên các lục địa.

a) Đá mácma phun trào

Đá mácma phun trào được thành tạo khi dung dịch mácma phun trào lên trên bề mặt đất; có sự giải phóng các chất khí có trong dung dịch macma một cách mãnh liệt, các đá macma phún xuất thường có cấu tạo rỗng xốp. Trên mặt đất, do nguội lạnh nhanh, macma không kịp kết tinh, hoặc chỉ kết tinh được một bộ phận với kích thước tinh thể rất nhỏ, chưa hoàn chỉnh, còn đại bộ phận tồn tại ở dạng vô đình hình, trong đá có lẫn nhiều bọt khí (do đang sôi và bị nguội lạnh nhanh): đó là dạng macma phún xuất chặt chẽ. Ví dụ Đá diabazơ, bazan, andezit. Có tính chất rỗng nhẹ, cứng và rất giòn. Sử dụng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ, dụng làm phụ gia hoạt tính cho bê tông và xi măng…

Khi macma đang sủi bọt, gặp lạnh đông lại nên rất xốp và nhẹ, hoặc phần macma bị phun lên cao, bay xa, nguội nhanh, hơi nước, khí thoát ra nhiều nên có kết cấu rỗng vụn, lỗ nhỏ: đó là dạng macma phún xuất rời rạc. Ví dụ Tro, túp núi lửa, túp dung nham. Tính chất nhẹ. Dùng làm phụ gia trơ cho bê tông và xi măng. Ngoài các núi lửa trên đất liền, một lượng lớn đá này hình thành một cách liên tục ở các sống núi giữa đại dương.

b) Đá mạch

Đá mạch là các loại đá xâm nhập khi mácma đi lên theo các khe nứt kiến tạo, đứt gãy hoặc các đá có trước bị yếu đi do các yếu tố kiến tạo. Các quá trình hình thành loại đá này có thể xảy ra trên cạn hoặc dưới đáy biển. Quá trình kết tinh có thể xảy ra ở các cấp áp suất và nhiệt độ đa dạng tùy thuộc vào vị trí và thế nằm của chúng.

c) Thế nằm của đá

Những yếu tố ảnh hưởng đến dạng nằm của đá magma

  • Hoạt tính của magma: Hoạt tính của magma liên quan tới tác dụng hóa học của magma. Hoạt tính của magma được thể hiện thông qua hàm lượng chất bốc, độ nhớt, trọng lực, áp suất thủy tĩnh…
    • Chất bốc (khí trong magma): Những magma giàu chất bốc sẽ xuất hiện các lực đưa magma xuyên vào đá vây quanh dễ dàng hơn magma nghèo chất bốc.
    • Hoạt tính liên quan đến trọng lực do sự chênh lệch tỷ trọng giữa đá magma và đá vây quanh: khiến cho magma di chuyển vào đá vây quanh khi có điều kiện thuận lợi.
    • Hoạt tính cũng liên quan đến áp suất thủy tĩnh (là áp suất của các khối đá trên đè xuống các khối đá dưới) do đó mà magma ở dưới độ sâu càng lớn thì có áp suất thủy tĩnh càng lớn và lò magma luôn có xu hướng dâng lên các tầng trên của Vỏ Trái đất để tạo nên các thể xâm nhập dạng vỉa, nấm…
    • Hoạt tính của magma liên quan đến sự phá huỷ các cân bằng tướng khí lỏng của magma, magma có áp suất khí cao khi dâng lên phần nông của Vỏ Trái Đất, áp suất mái giảm đi có thể gây nổ và tạo các ống nổ.
    • Hoạt tính của magma liên quan đến độ nhớt của magma và độ nhớt này ảnh hưởng đến hình dạng của thể đá magma: độ nhớt của magma phụ thuộc vào thành phần hóa học của magma, magma có độ nhớt càng thấp thì càng dễ chảy tràn và ngược lại (magma bazơ có độ nhớt thấp thì khi đưa lên bề mặt thường chảy tràn còn magma axit có độ nhớt cao thì thường tạo khối).

Yếu tố ngoại sinh bao gồm:

  • Hoạt động kiến tạo: Các hoạt động kiến tạo mức độ khác nhau sẽ tạo các đường dẫn khác nhau, từ đó sẽ dẫn đến hình dạng khác nhau của các thể đá magma.
  • Đặc điểm địa hình và đá vây quanh.

Dạng nằm của các đá magma xâm nhập

  • Thể nền (batolit): bất chỉnh hợp với đá vây quanh, phình ra ở phía dưới và không có đáy. Kích thước thường rất lớn, tới hàng ngàn km2.
  • Thể cán: giống thể nền, chỉ khác kích thước nhỏ hơn, diện tích lộ không quá 100-200km2.
  • Thể vỉa: do magma có áp lực xuyên vào khoảng giữa hai lớp đá, nó có hai mặt tiếp xúc song song, đường đưa magma lên là những khe nứt, đứt gãy. Kích thước rất khác nhau, bề dày từ vài chục mét đến hàng trăm mét. Chỉnh hợp với đá vây quanh
  • Thể nấm: giống hình cái nấm hoặc bánh dày, phân biệt với thể vỉa do kích thước tương đối (chiều dày:chiều rộng>1:8), ngoài rìa mỏng dần so với phần trung tâm. Thường là các thể xâm nhập nông, nằm chỉnh hợp với đá vây quanh.
  • Thể thấu kính, thể chậu: thường nằm kẹp giữa các nếp uốn, do khối nhỏ magma xuyên vào vỏ Trái đất rồi bị cuốn theo chuyển động dẻo, chúng thường không có rễ, chỉnh hợp với đá vây quanh.
  • Thể tường: nằm dốc đứng bất chỉnh hợp với đá vây quanh, kích thước từ vài chục mét đến hàng trăm km.

Dạng nằm của đá magma phun trào

  • Dạng dòng dung nham.
  • Dạng lớp phủ.
  • Dạng vòm, kim, tháp.

2) Đá trầm tích

Phần lớn lớp vỏ trái đất được cấu tạo bởi các đá mácma và đá biến chất, ước tính chúng chiếm khoảng 90-95% trong 16 km tính từ bề mặt trái đất. Dù vậy, hầu hết bề mặt trái Đất được bao phủ bởi trầm tích. Về cơ bản tất cả đáy biển được phủ bởi trầm tích và 70-80% các lục địa được bao phủ bởi các đá trầm tích. Hầu hết các hóa thạch được phát hiện trong trầm tích, đá trầm tích và đá biến chất từ đá trầm tích, chúng là các dấu hiện quan trọng cho việc tìm hiểu các điều kiện môi trường mà trước đây từng tồn tại trên bề mặt Trái Đất. Các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá và urani được chiết tách từ đá trầm tích.

Đá trầm tích được tạo ra từ sự lắng đọng của các mảnh vụn hoặc các chất hữu cơ, hay các chất kết tủa hóa học (các chất còn lại sau quá trình bay hơi), được nối tiếp bằng sự kết đặc của các chất cụ thể và quá trình xi măng hóa. Quá trình xi măng hóa có thể diễn ra tại hoặc gần bề mặt Trái Đất, đặc biệt là đối với các loại trầm tích giàu cacbonat.

Đặc điểm

Do được hình thành trong các điều kiện môi trường năng lượng thấp nên đá trầm tích có các đặc điểm chung là:

  • Có tính phân lớp rõ rệt, chiều dày, màu sắc, thành phần, độ lớn của hạt, độ cứng… của các lớp cũng khác nhau.
  • Cường độ nén theo phương vuông góc với các lớp luôn luôn cao hơn cường độ nén theo phương song song với thớ.
  • Đá trầm tích không đặc, chắc bằng đá mácma (do các chất keo kết thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại). Vì thế cường độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn. Một số loại đá trầm tích khi bị hút nước, cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan rã trong nước. Đá trầm tích rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi.

Phân loại

Do sự tích tụ, lắng đọng hay kết tủa trong nước của các khoáng chất, của đất đá bị phong hóa, vỡ vụn tích lũy thành khối mà thành. Dựa vào nguồn gốc hình thành có ba loại:

  • Đá trầm tích mảnh vụn

Đá trầm tích mảnh vụn hay trầm tích cơ học được hình thành từ các sản phẩm vụn nát sinh ra trong quá trình phong hóa các loại đá có trước tích tụ lại mà thành. Về cấu tạo, đá mảnh vụn gồm hai hợp phần là các mảnh vụn và xi măng gắn kết các mảnh vụn đó lại. Phần mảnh vụn là các hạt có nhiều kích thước khác nhau, và thành phần khác nhau; còn xi măng là các hạt có kích thước nhỏ hơn cỡ hạt sét như xi măng sét, xi măng vôi hoặc xi măng silic. Một số đá trầm tích mảnh vụn thường gặp như dăm kết, cuội kết, sa thạch.

  • Đá trầm tích hóa học

Đá trầm tích hóa học tạo thành do các khoáng chất hòa tan trong nước lắng đọng, kết tủa lại, như đá vôi dolomit. thạch cao, anhydrit, tup đá vôi…

Đá vôi chiếm khoảng 10-15% của các loại đá trầm tích của trái đất. Cacbonat canxi, CaCO3, có tồn tại ở hai loại khoáng vật là canxit và aragonit. Đá vôi có thể được hình thành trong nhiều cách khác nhau, canxi cacbonat có thể được kết tủa từ nước biển bão hòa, hoặc sinh học, động vật có vỏ đá vôi để lại vỏ. Có cả động vật hình thành khung xương aragonit và động vật hình thành khung xương canxit, và tùy thuộc vào loại động vật sinh sống ở một hốc đá vôi có thể khác nhau đáng kể giữa các địa điểm.

Loại phổ biến nhất của các loại đá kết tủa hóa học là evaporit, được hình thành khi nước giàu muối hòa tan bị bốc hơi. Khi bay hơi nồng độ muối tăng cho đến khi nước được bão hòa và muối bắt đầu kết tủa. Một lượng lớn các đá evaporit hình thành khi biển bốc hơi trong khu vực Địa Trung Hải trong suốt thế Miocene và dọc theo bờ Biển Chết ngày nay. Các loại khoáng evaporit gồm thạch cao (CaSO4·2H2O), thạch cao khan (CaSO4) và halit (NaCl).

  • Đá trầm tích hữu cơ

Trầm tích hữu cơ tạo thành do sự tích tụ xác động vật, thực vật như đá vôi, đá vôi vỏ sò, đá phấn, đá diatomit, trepen… Trầm tích hữu cơ thường bị các vi sinh vật tiêu thụ ôxy phá hủy. Tuy nhiên, nếu lượng oxy không đủ, vi sinh vật không thể phá hủy toàn bộ nguyên liệu, và nó có thể tạo thành một tảng đá hữu cơ. Các loại đá này có thể được hình thành cả trên các lục địa và đại dương. Ví dụ về một môi trường lục địa là than và biển là đá phiến dầu. Thành phần của hợp chất carbon và carbon có thể lên tới 25% và hàm lượng lưu huỳnh có thể lên tới 12%.

Đá trầm tích núi lửa

  • Đá hình thành do mảnh vụn của núi lửa lắng đọng và nén ép thành đá như tuff.

Mời các bạn theo dõi tiếp phần 3: Tìm hiểu các loại Đá tự nhiên trong thiên nhiên được đăng tải ngày 12/04/2019.

Trân trọng./

CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG NAMSTONE

Namstone.vn – Giải pháp hoàn hảo cho ngôi nhà của bạn.

Tự hào là một trong những doanh nghiệp uy tín chuyên cung cấp các sản phẩm đá tự nhiên, cho nội thất và ngoại thất với nhiều chủng loại: Granite – Marble – Slate – Sandstone – Bluestone – Basalt.

Hotline: 0914 55 1996